Lãi suất ngân hàng ở Việt Nam, theo lý thuyết, tối đa chỉ là 14%/năm ở mức lãi suất huy động. Thực tế, lãi suất huy động có thể lên tới 17-18%. Đừng hi vọng ra đường gặp cái bảng ghi là “lãi suất huy động 17%/năm”. Hoạt động nâng lãi suất diễn ra kính đáo qua các hoạt động khuyến mãi hay thưởng này nọ. Lãi suất huy động càng cao thì ngân hàng phải trả lãi càng nhiều, đồng thời dẫn đến lãi suất cho vay càng cao hơn nữa. Thông thường, mức chênh lệch này là khoảng 1 tới 2%, nghĩa là mức lãi suất cho vay phải lên tới gần 20%. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp hoạt động, sau khi bán hết sản phẩm, lấy doanh thu về, trả hết tiền nguyên nhiên vật liệu, tiền nhân công, tiền thuê mặt bằng [khá cao ở Việt Nam], tiền “đen”, đóng thuế, thu được lợi nhuận sau thuế này phải vượt mức 20% để còn trả nợ ngân hàng. Tỉ suất lợi nhuận đạt trên 20% mới chỉ đủ để trả lãi suất ngân hàng, chứ chưa nói đến “tích lũy tư bản”, “nghiên cứu khoa học công nghệ”, “đổi mới máy móc”… Có thể nói, lãi suất chính là một phần của chi phí hoạt động. lãi suất càng cao, chi phí hoạt động càng lớn. Lớn quá thì doanh nghiệp tắc thở. Năm 2008, chúng ta cũng trải qua môt cơn bão lạm phát và lãi suất tăng cao. Khi đó, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, ông Cao Sĩ Kiêm đã công bố con số khiến những nhà quản lý phải giật mình: “20% doanh nghiệp phá sản, 60% nằm im dưới dạng “chết lâm sàng” và chỉ có 20% tiếp tục hoạt động”. tất nhiên, doanh nghiệp vẫn có khả năng sống sót. Chỉ cần lợi nhuận cao là có thể chống chọi được. Tuy nhiên, một trong những đánh đổi quan trọng nhất của kinh tế chính là giữa lợi nhuận và an toàn. Lợi nhuận cao đồng nghĩa với rủi ro cao. Một vài doanh nghiệp vẫn chấp nhận rủi ro rao. Khoan hãy nói đến chuyện rủi ro cao đa phần là trái luật, nếu trong nền kinh tế, tất cả mọi thành phần đều chấp nhận lao động vào các cuộc chơi 1 ăn 2 thua, rủi ro và lợi nhuận đều cao, thì nền kinh tế ấy khác gì một cái casino? Không sớm thì muộn, nền kinh tế ấy sẽ sụp đổ nhanh chóng. Các nhà quản lí, các giám đốc ngân hàng đều biết điều này. Tại sao họ vẫn để lãi suất lên cao như vậy?
Lí do thứ nhất: vì họ không thể đưa nó xuống được.
Lãi suất cũng như mọi mặt hàng khác trên thị trường, nó tuân theo quy luật cung cầu. Cung lớn thì lãi suất giảm, cầu lớn thì lãi suất tăng. Cầu chính là tổng cầu về tiền của toàn nền kinh tế. Cung ở đây chính là mức cung tiền của toàn bộ nền kinh tế, chính là nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội. Lãi suất tăng đến nỗi không thể đưa xuống được, đồng nghĩa với cầu bây giờ đã vượt quá cung. Tại sao lại có hiện trạng này ở Việt Nam?
[Vì là một người theo Keynes, người viết sẽ trình bày những quan điểm liên qua về cầu trước, mặc dù ảnh hưởng của cầu là không lớn bằng cung trong trường hợp này. Tuy có sự phân biệt rõ giữa cầu và cung, nhưng trong thật tế ảnh hưởng của chúng là có tác động qua lại lẫn nhau]
Cầu về tiền luôn luôn có trong một nền kinh tế. Tiền, tư bản, vốn… giúp ích cho công việc kinh doanh. Nền kinh tế càng phát triển, hoạt động kinh doanh càng mở rộng, thì cầu về tiền càng lớn. Trong những năm qua, nền kinh tế đã phát triển có phần “hơi” nóng, điều này đã dẫn đến lượng cầu tăng lên nhanh. Đừng nghĩ chỉ có giới doanh nghiệp mới cần tiền. Ngay cả nhà nước, chính quyền, khi muốn thực hiện một dự án nào đó cũng cần có tiền. Một phần lấy từ nguồn thu thuế, phần còn lại cũng phải đi mượn ngân hàng như ai khác. Nhằm đuổi kịp với các nước, và xây dựng cơ sở vật chất để tạo tiền đề cho việc tiến lên xã hội chủ nghĩa, nhà nước đã thực hiện đầu tư công hàng loạt. Từ các tổng công ty 91 cho đến các cơ sở hạ tầng. Khi nguồn thu thuế không đáp ứng nổi các khoản đầu tư công này, nhà nước buộc phải đi vay mượn. Có 3 cách thường thấy để nhà nước vay tiền: phát hành trái phiếu chính phủ, vay ngân hàng hoặc ép ngân hàng trung ương in tiền. Với vấn đề trái phiếu chính phủ, năm nào nhà nước cũng phát hành vài tỷ USD trái phiếu. Nhưng phần lớn nguồn tiền chính phủ cần đến từ vay ngân hàng. Hiện nay nợ công của chính phủ lên tới 50% tổng GDP cả nước. Nhưng tại sao Nhật Bản có nợ công lên tới hơn 100% GDP mà lạm phát lại không xảy ra? Vấn đề nằm ở hiệu quả đầu tư công. Các tổng công ty nhà nước với sự chống đỡ của nhà nước thật sự là một vấn đề của nền kinh tế hiện nay. Thật sự, mô hình doanh nghiệp nhà nước là không hoàn toàn xấu. Nhà nước cần phải nắm giữ một vài ngành nghề quan trọng, nhạy cảm để một phần quản lí nền kinh tế. Vấn đề ở Việt Nam là các công ty nhà nước này quá nhiều, và hiệu quả thì quá thấp. Chắc mọi người đã nhàm với thông tin về Vinashin, nhưng thực sự đây là một trường hợp rất điển hình mà khi đề cập đến công ty nhà nước, người ta thường phải đề cập đến. Không chỉ là hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, doanh nghiệp này còn hút rất nhiều vốn từ các ngân hàng. Ngân hàng nào mà lại dám cho một doanh nghiệp vay như vậy? Nhưng nếu có ý kiến từ chính phủ thì ai mà dám cãi lại? Vinashin lâm nạn, hàng loạt ngân hàng Việt Nam từng cho Vinashin vay bị các tổ chức quốc tế đánh tụt hạng mức độ tín nhiệm vì đã đầu tư rủi ro quá cao. Điều này đã dẫn đến khả năng hoạt động của các ngân hàng này trên thị trường quốc tế. Bỏ qua vấn đề doanh nghiệp nhà nước, ngay cả việc đầu tư cơ sở hạ tầng cũng có vấn đề. Điều này không cần nói ra thì ai cũng biết. Các công trình hạ tầng ở Việt Nam thi công chậm trễ, chất lượng thì không tốt, nhưng tiền công thì vẫn lấy đủ, đôi khi còn đòi thêm. Hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam đang ở mức thấp, điều này đã dấn đến những hệ quả trong việc lãi suất tăng cao. Chúng ta đang lạm dụng vốn quá nhiều. Điều này thể hiện ở chỉ số ICOR quá cao. Nhưng cần phải xem xét rõ khu vực nào mới chính là nguyên nhân đẩy cao ICOR: nhà nước hay tư nhân. Người viết tin rằng chính khu vực nhà nước mới là tác động chính đối với chỉ số ICOR.
Vấn đề thứ 2 đối với tổng cầu liên quan tới lạm phát. Lạm phát tăng mạnh trong những năm gần đây, đặc biệt là ở 2 năm 2008 và 2010. Lạm phát tăng đẩy giá thành sản phẩm lên cao. Điều này khiến người tiêu dùng tăng cầu về tiền. Có thể hiểu như vậy: hồi trước đổ xăng tốn có 5k VND 1 lít thì trong ví tiền chỉ cần có 5k là được. Bây giờ đổ xăng 22k 1 lít, thì trong ví tiền phải có ít nhất 22k. Tăng cầu về tiền khi có lạm phát là như vậy.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận rõ là vấn đề cầu tiền để đầu tư là luôn luôn có. Về hiệu quả, không phải bây giờ mà trước kia chúng ta cũng đã không sử dụng hiệu quả. Lạm phát cao vẫn xảy ra ở nhiều nước nhưng lãi suất của họ vẫn không tăng cao. Qua đó, có thể thấy được, vấn đề của lãi suất hiện nay nằm ở nguồn cung.
Cung tiền của nền kinh tế, theo lý thuyết, do ngân hàng trung ương quyết định thông qua 3 nghiệp vụ: nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất và dự trữ bắt buộc. Các ngân hàng không có tác động đến tổng cung tiền. Các ngân hàng chỉ là trung gian giữa người cần vốn và người thiếu vốn. Nhưng thật tế, chính các ngân hàng cũng đã góp 1 phần gây rối loạn nguồn cung tiền hiện nay.
Khác với các nước khác trên thế giới, người Việt Nam có một đặc tính là tiết kiệm và luôn giữ tiền bên mình. Những ám ảnh từ những cuộc biến động trong quá khứ đã khiến một bộ phận người Việt Nam không yên tâm lắm khi gửi tiền vào các thể chế tài chính. Họ chuyển đổi tất cả ra ngoại tệ [chủ yếu USD] hoặc là vàng để tiện lưu trữ. Điều này thật sự đã gây ảnh hưởng lớn tới khả năng kiểm soát nguồn tiền ngoài thị trường của ngân hàng trung ương. Ngân hàng Trung ương rất khó xác định được hiện giờ trong nhân dân có bao nhiêu lượng vàng và lượng ngoại tệ [nghe đồn, lượng USD ngoài luồng này khoản 5 tỉ USD và lượng vàng tương đương với khoản 50 tỉ]. Thống đốc không thể biết được khi nào nên tăng cung tiền, khi nào nên giảm cung tiền. Điều đó dẫn đến những quyết định sai lầm là không thể tránh khỏi. Không những vậy, trong khi đa phần các nước đã thành công hạn chế trong việc sử dụng tiền mặt, đa phần người Việt Nam vẫn chưa có thói quen đấy. Tại sao lại cần phải hạn chế sử dụng tiền mặt? Để kiểm soát. Để tránh trốn thuế. Để đưa tất cả vào 1 hệ thống để có thể có những số liệu tốt hơn phục vụ cho các quyết định về kinh tế vĩ mô. Không phải ngẫu nhiên mà khi mua hàng ở Việt Nam, khi trả bằng thẻ, chúng ta được khấu trừ tới 3% tổng giá trị [trong khi ở các nước khác thì ngược lại, tiền mặt sẽ được ưu tiên giảm giá]. Có thể thấy, Ngân hàng Trung Ương đang nổ lực đưa tất cả vào một hệ thống
Một trong những nghịch lý lớn nhất của hệ thống tài chính Việt Nam là quy mô của nó. Với GDP khoảng hơn 100 tỉ USD, dân số 80 triệu người thì quá nửa là nông dân, thế nhưng hệ thống tài chính Việt Nam sở hữu một lượng lớn nhiều ngân hàng và các định chế tài chính khác. Tổng số ngân hàng Việt Nam hiện nay đã vượt hơn 40. Hơn 40 ngân hàng cùng tranh nhau một miếng bánh nhỏ. Điều này dẫn đến gì? Cạnh tranh cho một thị trường tốt hơn? Lợi ích người tiêu dùng sẽ tăng cao? Việc này chỉ xảy ra ở các ngành nghề khác, với ngành nghề tín dụng thì không. Tại sao? Vì các ngân hàng này còn phải cạnh tranh cho miếng bánh về vốn nữa. Các ngân hàng đều luôn muốn cho vay, nhưng không phải lúc nào cũng có tiền cho vay. Muốn có thì có 2 cách: vay ở thị trường liên ngân hàng và huy động vốn. Tuy nhiên, việc sử dụng tiền vay ở thị trường liên ngân hàng đem cho vay đã bị cấm bởi thông tư 13 năm 2010 [thật tế, cũng rất ít ngân hàng sử dụng đến phương pháp này]. Phương pháp cổ điển là huy động vốn, và đem vốn ấy cho vay. Hơn 3 tá ngân hàng giành giựt khách hàng. Cách tốt nhất để huy động được vốn chính là nâng lãi suất huy động. Các ngân hàng càng nhỏ, càng ít vốn thì càng đua đòi nâng lãi suất huy động để thu hút khách hàng. Lãi suất huy động tăng thì lãi suất cho vay cao. Chỉ cần chênh lệch 1% lãi suất huy động, 2 ngân hàng có sẽ lượng vốn huy động rất khác biệt [người gửi tiền thường không quan tâm tới sự an toàn của tiền gửi, vì tiền của họ được bảo đảm với ngân hàng trung ương. Trong trường hợp ngân hàng họ gửi tiền không thể trả tiền lại, ngân hàng trung ương sẽ gánh]. Điều này đã dấn đến cái gọi là cuộc đua lãi suất. Hệ quả của nó là như chúng ta đang thấy, các ngân hàng cố gắng đua với nhau để tăng lãi suất huy động. Nếu 40 ngân hàng này liên kết lại, chỉ còn khoảng 10 ngân hàng với nguồn lực tốt vì hiện tượng này sẽ không xảy ra. Họ không cần phải cạnh tranh quá quyết liệt về tranh giành nguồn vốn huy động. [bây giờ thì nhà nước cũng cấm mở thêm ngân hàng rồi, có điều hơi trễ]
Tuy nhiên, dù thị trường có hoạt động không hoàn hảo thế nào đi nữa, nếu ngân hàng trung ương có đều đặn bom tiền vào thị trường thì lãi suất cũng không thề tăng quá cao. Thật tế, ngân hàng trung ương đã làm việc đó. Có thể thấy rõ điều này qua việc lạm phát tăng cao. Thế nhưng tại sao lãi suất vẫn cao, nền kinh tế vẫn ì ạch? Phải chăng nguồn vốn đã không chảy đúng chỗ? Tiền bom vào thị trường đã đi đâu?
Vấn đề tiếp theo khiến các nhà quản lí không muốn giảm lãi suất chính là lạm phát. Theo các mô hình kinh tế cổ điển, đặc biệt là hiệu ứng Fisher, khi lạm phát tăng cao thì phải tăng lãi suất để giảm lạm phát. Tuy nhiên, vấn đề là ở các nước khác, lãi suất thường thấp nên tăng một tí cũng không sao. Ở Việt Nam, lãi suất đã cao sẵn, tăng lên nữa sẽ góp phần ảnh hưởng tới chi phí sản xuất, tiếp tục tăng cao lạm phát. Mỗi lần Việt Nam tăng lãi suất tính bằng 1 hay 2%. ở nước người ta, tăng lãi suất là tăng 0,1 hoặc 0,25%. Khác biệt như vậy mà dùng chung một lí thuyết kinh tế là không thể được.
Tổng quan, có thể thấy những vấn đề đã dẫn đến lãi suất tăng cao hiện nay là: nguồn vốn bị hút vào các khu vực sản xuất không hiệu quả, bao gồm đầu tư công, vàng, ngoại tệ và bất động sản; hệ thống tài chính quá đông ngân hàng, trong khi đó người dân thì lại dùng tiền mặt và tích trữ tài sản quá nhiều; đồng thời là việc áp dụng máy móc các lý thuyết kinh tế không phù hợp.
Vấn đề giải pháp, chúng ta đang thực hiện. Vì thế người viết sẽ không đề cập ở đây. Thắt chặt tiền tệ, giảm đầu tư công đang được nhà nước tiến hành. Hi vọng trong thời gian ngắn, nền kinh tế sẽ trở lại bình thường.
Kz, 4/2011.
hay
Trả lờiXóa